Sáng kiến cấp tỉnh

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể  chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề  nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Theo tinh thần đó thì học sinh là trung tâm của hoạt động học cho nên  cần có sự đổi mới trong tất cả các hoạt động dạy và học: từ việc xây dựng nội dung chương trình sách giáo khoa, các phương pháp dạy học, mô hình lớp học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh,… Tất cả đều hướng tới phát triển phẩm chất năng lực ở người học theo quan điểm nhẹ nhàng động viên khuyến khích sự cố gắng của học sinh. Trong đó sự đổi mới cách tổ chức lớp học cũng là một yếu tố rất quan trọng.

Trong nền giáo dục nước ta từ khi bắt đầu hình thành ( trong giáo dục thời phong kiến) thì mô hình một thầy giáo (thầy đồ) ngồi trên một cái phản hay một cái chõng ở dưới là các học trò (mỗi trò một bàn con). Trong quá trình học thầy đọc trước trò đọc sau các bài trong tam tự kinh, ngũ kinh (gồm kinh thư, kinh dịch, kinh thi, kinh lễ, kinh nhạc), tứ thư,… sau đó thầy giảng chữ và viết chữ học sinh làm theo. Tiếp theo tới giáo dục thời Pháp thuộc đã hình thành lên lớp học phòng học trong đó có phấn trắng, bảng đen, bàn giáo viên và bục giảng (mô hình lớp học tư bản chủ nghĩa của nước thuộc địa). Mô hình trên tiếp tục duy trì phát triển phù hợp với lớp học xã hội xã hội chủ nghĩa như ngày nay.

Trong  các mô hình lớp học ở trên, bục giảng bàn giáo viên là một vùng địa linh độc tôn chỉ dùng chủ yếu cho giáo viên. Trên đó giáo viên truyền thụ kiến thức cho người học vì vậy mô hình này vô hình chung đã biến người giáo viên thành người truyền thụ kiến thức một chiều cho học sinh còn học sinh là người học thụ động chỉ nghe và ghi lại những lời thầy cô giảng trên bục giảng.

 Vì thế cho nên hai mô hình lớp học trên cố một số hạn chế sau: Học sinh tiếp thu kiến thức thụ động; Giáo viên thực hiện hoạt động dạy học theo phương pháp truyền thống thầy giảng trò ghi theo phương châm nhồi nhét; Học sinh hạn chế phát triển năng lực cá nhân cụ thể là: tư duy độc lập, khai thác tài lệu tổng hợp kiến thức, phát triển ngôn ngữ, hợp tác làm việc theo nhóm và đặc biệt là độc lập quá trình học với thực hành tiếp thu kiến thức chuyên sâu hàn lâm mà thiếu tinh thần sáng tạo hoàn thiện kĩ năng thực tiễn;    

Với giáo viên trong quá trình lên lớp không thu được các thông tin ngược chiều từ người học cho nên bài học thiếu sáng tạo bài năm trước dùng cho năm sau mà thiếu bổ sung cho phù hợp hơn nữa học sinh cho rằng những gì thầy nói là tôn chỉ, chí tôn và thầy luôn đúng. Một nhược điểm nữa là học sinh không được giao lưu với nhau trong quá trình học. Lớp học có bục giảng thì nơi đó học sinh rất sợ vì khi lên đó các em phải đối diện với tâm lý chung là lo sợ (có thể cho là mình bị phạt, thiếu tự tin trước mặt đông người).

Tâm lý học sinh tiểu học thích cái mới, cái tác động trực quan đến thị giác của các em. Học sinh tiểu học là độ tuổi hiếu động thích giao lưu nên không thể ngồi một vị trí trong thời gian quá lâu, các em thích sự tự do không bó buộc.

Hiện nay học sinh tiểu học của chúng ta rất hạn chế về kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đàm thoại, kĩ năng làm việc nhóm. Không chỉ riêng học sinh tiểu học mà phần lớn học sinh sinh viên Việt Nam khi vào chỗ đông người có tâm lí “ao làng” sợ đám đông. Khi chúng tôi thực hiên nghiên cứu mô hình này nhằm hai mục đích: Một là khắc phục những hạn chế mà mô hình lớp học truyền thống đạt ra. Nhằm giúp học sinh tích cực hơn trong quá trình học làm mềm hoạt động học tập ở tiểu học “học mà chơi – chơi mà học”. Trong mỗi tiết học học sinh đều thấy thoải mái nhẹ nhàng thân thiện giảm áp lực học tập, giảm tải cho học sinh. Học sinh thấy mỗi ngày đền trường là một ngày vui; Hai là khắc phục sự hạn chế kĩ năng thuyết trình, đứng trước đám đông làm việc nhóm, khai thác và sàng lọc thông tin.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Qua việc thực hiện nghiên cứu các mô hình lớp học có bục giảng mềm- bục giảng chúng tôi sẽ áp dụng - một số mô hình vào tổ chức một số tiết học trên lớp của một số môn học nhằm phát huy các ưu điểm của nó và hạn chế các nhược điểm của mô hình lớp học truyền thống. Trên cơ sở giúp cho hoạt động học tập diễn ra đa dạng mà hiệu quả cao trong hình thành và phát triển năng lực ở người học. Sau đó chúng tôi sẽ nhân rộng mô hình này ra nhiều tiết học và nhiều lớp học khác.

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hai mô hình lớp học:

- Lớp học có bục giảng mềm (trong phòng học hiện tại ở địa phương).

- Lớp học không bục giảng (tổ chức hoạt động học ngoài phòng học)

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài chúng tôi có sử dụng phương pháp phân tích cứ liệu trên mức độ hiểu bài và hừng thú tham gia của học sinh. So sánh kết quả hiểu bài của mô hình khác nhau: mô hình có bục giảng – và không có bục giảng.

5. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

Đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu trong đề tài là học sinh lớp 4A1Trường Tiểu học Thụy Duyên năm học 2013 - 2014 và học sinh lớp 5A1 Trường Tiểu học Thụy Phong năm học 2014 – 2015.

6. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

Bước 1: Tổ chức dạy học theo hai mô hình (mô hình lớp học truyền thống – mô hình lớp học không bục giảng).

Bước 2: Thu thập thông tin từ người học qua phiếu thăm dò với 3 mức độ hứng thú (cao, bình thường, thấp)

Bước 3: Đánh giá kết quả học tâp học sinh theo 2 mức (đạt , chưa đạt)

Bước 4: Tổng hợp phân tích số liệu đưa ra kết luận.

Bước 5: Nhân rộng, phổ biến mô hình với đồng nghiệp và tiếp thu thông tin phản hồi.